Weblog

Friday, 04 September 2009

  • Đọc lại V(I)P

    Trong bài viết Ngợi ca nỗi quan hoài, Éloge du pessimisme, trên số báo Le Magazine Littéraire, Avril 2005, Olivier Postel-Vinay đọc hai cuốn của Steiner, Dix raisons (possibles) à la tristesse de pensée [Mười lý do (có thể) đưa đến nỗi buồn tư duy], Một ý nghĩa nào đó về Âu Châu, Une certaine idée de l'Europe, có nhắc đến một câu của Steiner, nói với tờ Le Magazine Littéraire, vào năm 2004: Văn hóa của chúng ta sao mà buồn quá. Nó tầm phào, [superficielle: phiến diện], nó giả đò, [faux-semblant]. Steiner buồn bã than. Ông truy nguyên nỗi buồn tầm phào, giả đò của đương thời có nguồn gốc từ nỗi buồn ngàn xưa, thổi về từ một vùng đất u tối, và là nền tảng của tri thức nhân loại. và ông đặt câu hỏi: Ở đâu ra cái nỗi buồn nền tảng của tư tưởng nhân loại, d'où vient la tristesse foncière de la pensée humaine?
    Trong cuốn Một ý nghĩ nào đó về Âu Châu, Steiner cho rằng, cái gọi là Suy Nghĩ Lớn, thật ra là sản phẩm của Âu Châu! [La "grande pensée" est une invention de l'Europe]. Nó là di sản kép của Athens và Jérusalem. Ánh sáng đâu có đến từ đâu đâu, mà là từ nguồn kép đó. Bởi vậy cơn hăm dọa về một cái chết của Âu Châu, cưu mang trong nó một nỗi buồn nguyên thủy.
    Zweig được vinh danh là nhà văn Âu Châu, và cái chết của ông gây chấn động giang hồ, là còn theo cái ý nghĩa ghê rợn, khủng khiếp như thế đó!
    Đặng Tiến đọc, và cảm nhận ra nỗi buồn hiu hắt trong văn phong của Võ Phiến. Cả một cuốn sách viết về Võ Phiến của nhà đại phê bình không thể có một nhận xét tương tự như vậy, về Võ Phiến, ấy là vì nhà phê bình chỉ mải khoe thứ văn hóa tào lao tầm phào giả đò mà ông đi chôm của người. Cái đọc của NHQ không có chiều sâu, không có cái gì của riêng ông, cái mà ông gọi là "chủ kiến" của nhà phê bình. Bởi vậy, Người viết hơn cả 10 cuốn sách, mà có ai thèm nhắc tới đâu!
    Ngồi lâu bên bờ sông là thể nào cũng có ngày nhìn thấy xác bạn quí bạn hiền... Sở dĩ Gấu chưa bao giờ nhắc lại chuyện cũ, ấy là vì còn mải lo trình bầy Suy Nghĩ Lớn về Cái Đại Ác Bắc Kít. Bây giờ rảnh rồi, Gấu sẽ dùng quãng đời bonus để... dọn Kít.
    Cũng là một việc làm công ích vậy!
    Sao không hiền trong khi chờ đi hử ông Gấu?
    Làm công ích mà không 'hiền' ư?
    *
    Điều tra
    Blog văn học có giá trị gì không?
    Một khi ký giả, nhà văn, nhà tài tử khoác bộ áo bloguer, là để khám phá ra cái mặt sau của sàn diễn của cuộc sống văn học, để làm tái sinh những cuộc tranh luận, và tìm tòi sáng tạo.
    Đây là cuộc điều tra của Alexis Brocas, với hình minh họa của Nini La Canaille, cho tờ Văn Học Le Magazine Littéraire, đăng trên số báo Avril 2008, đặc biệt về Những người Do thái và văn chương.
    Mặt trái của sàn diễn?
    Độc giả biết chuyện ông Hàn Francois Nourissier chưa từng đọc Những kẻ thiện tâm vậy mà bỏ phiếu OK Goncourt 2006 là nhờ blog văn học của Gilles Cohen-Solal, đồng chủ biên của nhà xb Heloise d’Ormesson. Ai ban cho Philippe Sollers cái nón “nhà văn ẩm mốc” ? Nhà phê bình Juan Asenso, dưới cái nick Stalker, làm một cuộc mổ xẻ, autopsie, cái xác đang thối rữa, bốc mùi, là cõi văn Tây. Cái thứ văn hóa đang được phát triển ở trên blog là thứ biểu hiện trực tiếp, thường là vượt rào cản, áo thụng vái nhau, ứng xử sao cho có văn hóa ngoài blog. Trên blog, tha hồ mà nói tục, tha hồ mà sỉ nhục lẫn nhau… chủ nhà xb độc lập Léo Scheer giải thích.
    Thực ra, văn hóa blog và cái không khí của nó, làm chúng ta nhớ đến những cuộc tranh luận nẩy lửa, rất ư cần thiết của văn chương, và nó ngày càng nở rộ.
    Nếu không nhờ blog “quê choa”, của NQL, làm sao chúng ta biết đến giai thoại tuyệt vời về mớ lông chim tặng anh, trước khi đi lấy chồng, của người yêu của nhà văn VC, TNV?  Hay những giai thoại về một anh chàng heo nọc chuyên nghề phục vụ phụ nữ chồng đi Nam chiến đấu, và vợ liệt sĩ?
    Hiện tượng blog ở trong nước quả là quá cần thiết cho độc giả, ở trong lẫn ngoài nước, theo Gấu.
    *
    “Một cây diêm đủ làm sáng căn lều của tôi.” Éric Chevillard, chủ nhân một blog văn học, trả lời, khi nhận định về một cái còm của độc giả.
    “Ai yêu tôi, thì theo tôi”, ông tuyên bố.
    Tin Văn mỗi ngày có chừng 100-150 khách viếng thăm, khách nào cũng vô thăm gần như mỗi ngày hai lần. Như vậy, con số visitors mỗi ngày là từ 200-300, theo như server cho biết. Vị trí 3 nước đứng đầu trong Top Ten Countries, là Mỹ, Canada, Việt. Có khi Việt Nam đứng đầu. Có vẻ như VC không còn tạo tường lửa đối với Tin Văn!
    Thế mới thích chứ!
    Tks all of U, [VC included]. NQT
    *
    Những cụm từ mà độc giả, hay sử dụng, khi search, qua server cho biết, có cụm này:
    Phố vẫn hoang vu từ lúc em đi.
    Đây là một entry của Blog của Gấu, sau đưa qua Tin Văn, viết về CM, và chân lý trứ danh:
    Cái hồn của văn chương Miền Nam nằm đâu đó, rải rác, trong những bản nhạc sến.
    Tuyệt ơi là tuyệt!
    [Note: Khúc này viết, nhân đọc entry mới trên blog NL]
    *
    Đọc sách thực sự là đọc cho mình. Kể cả đối với nhà phê bình, trừ phê bình gia dởm, đọc là để loè thiên hạ. Độc giả bình thường, lúc đầu choáng, sau, chán!
    *
    Cái vụ lần thứ ba Gấu tính về, đã sửa soạn xong xuôi, thông báo một số nơi chốn, địa chỉ quen thuộc, bỗng thấy ơn ớn, bèn mail cho một anh bạn, một con người bí ẩn chẳng khác chi Người Không Mặt PXA, như sau này Gấu nghe phong thanh. Anh bèn mail, từ một cái địa chỉ lạ hoắc, này, đừng có dại mà về, thời tiết Hà Nội không còn đẹp như hai lần anh về đâu!
    Gấu bèn mail tiếp, nhưng về Sài Gòn thì có được không, thời tiết Sài Gòn có đẹp không…
    Những sự kiện trên là hoàn toàn có thật, bạn đọc Tin Văn có thể coi chúng là những “sự kiện lịch sử”, đừng nghĩ Gấu này phịa ra để đánh bóng Gấu!
    Và, đúng như người ta nói, nhiều khi sự thật còn “giả tưởng hơn cả giả tưởng”, theo nghĩa, bạn đọc, và không thể nào tin là thực!
    Cái đoạn tiếp theo của chuyến đi bất thành này, mới ly kỳ rùng rợn.
    Gấu viết đến đây, bèn ngưng, chờ động tịnh từ phía người xưa. Coi anh, và “người đó” có cho phép viết ra hay là không, và viết ra có ảnh hưởng đến "sự nghiệp chính trị" của những người liên quan hay là không…
    Nếu nhận được cái mail cảnh cáo, NO, thì xin lỗi bạn đọc, Gấu đành stop!
    *

    Cái "tiểu chú" mà Nguyễn Quốc Trụ nhắc nằm trong phần "Tài liệu tham khảo về Võ Phiến" trong cuốn Võ Phiến được Văn Nghệ xuất bản vào năm 1996 của tôi. Trong phần đó, có đoạn tôi điểm qua tạp chí Văn số đặc biệt về Võ Phiến phát hành tại Sài Gòn vào tháng 8 năm 1974. Sau khi liệt kê các bài viết chính trong số Văn ấy, tôi viết thêm: "Ngoài ra, còn mục 'Ðọc Võ Phiến', gồm những trích đoạn từ bài viết của các nhà văn: Phan Lạc Phúc, Mai Thảo, Ðỗ Tấn, cô Phương Thảo, Huỳnh Phan Anh, Viên Linh, Nguyễn Quốc Trụ, và Nguyễn Ðình Toàn về một tác phẩm nào đó của Võ Phiến. Tất cả các bài viết này đều đã được đăng báo, đâu đó." (tr. 205) 
    Ðã đành, với cách viết hờ hững như thế, tôi không xem các bài viết hay các trích đoạn ấy có giá trị văn chương hay sử liệu gì quan trọng…

    Có mấy Nguyễn Quốc Trụ?
    *
    Trưa lang thang đại lộ Hàm Nghi - Cầu Calmette
    Văn Tế 

    Cái vụ tại làm sao Gấu không nhớ đã từng viết về ông tiên chỉ Võ Phiến, hoàn toàn là lỗi của ông bạn quí của Gấu, khi đó, là tổng thư ký tờ Văn, đã lôi một bài viết từ trong ‘thùng rác lịch sử’, đăng trên Văn, và chẳng thèm hỏi ý kiến của Gấu, ấy là vì ông biết, kiếm nó cũng không thể nào thấy, và giả như biết nó ở đâu, thì cũng đành chịu không dám mò ra khu Chợ Cũ, đại lộ Hàm Nghi, hay chân cầu Calmette.
    Bài viết về Võ Phiến, là từ phụ trang văn học cuối tuần của nhật báo Tiền Tuyến, và lúc đó, Gấu phụ trách, có thể, do cần bài trám vô một khoảng còn trống, nên đã viết về truyện ngắn Võ Phiến.
    Gấu tin là bài viết phải có một cái gì đó nên ông bạn quí mới lôi ra lau lau chùi chùi cho bớt bụi thời gian rồi đăng trên Văn. Bởi vì, trong những gì của Võ Phiến, nào tùy bút, nào thơ, nào tin văn học dưới tên Tràng Thiên.... Gấu chỉ đọc được có truyện ngắn của ông, và, chúng thật là tuyệt vời, nhất là, nếu bạn đọc nó vào cái thuở mới lớn, thân thể của bạn lúc nào cũng rậm rật, chỉ muốn, chỉ thèm “làm bậy”, đúng như trường hợp ông nhà văn Nobel Golding vừa mới cho biết, vào lúc 18 tuổi, ông đã tính hiếp dâm một cô bé 15 tuổi.
    Nhân tiện, nhắc chuyện lần tờ Văn Học của Nguyễn Mộng Giác ra số đặc biệt về Võ Phiến, và anh order Gấu viết một bài, khi sắp sửa từ giã Cali về lại Canada, trong chuyến viếng thăm Tiểu Sài Gòn của hai vợ chồng Gấu, vào năm 1998, tá túc nhà anh, khi cuốn sách Lần Cuối Sài Gòn vừa ra lò.
    Sau này, Gấu có nhận được vài cái mail của vài độc giả, hầu hết đều có viết văn, có nổi tiếng, và đều quá thích bài viết, thí dụ như một mẩu sau đây (1)
    Trong số đó, còn một cái mail, cho biết, bài của Gấu "trùm" cả số báo, đúng ra là phải để ngay ở  những trang đầu, thật trang trọng, chứ tại sao lại để ở mục Tạp Ghi.
    Sai, theo Gấu. Để ở mục Tạp Ghi là đúng, và đây là sự tôn trọng của NMG đối với tất cả những bạn văn cộng tác với Văn Học. Hơn hẳn Sến Cô Nương, khi chê bài của NVL, cộng tác viên, không đủ tiêu chuẩn.

    (1) Thư độc giả [nhân đọc bài viết về Võ Phiến, trên báo Văn Học,1998].
    ......
    Trước khi đọc NQT, vẫn có những bài phê bình sắc sảo tài hoa. Nhưng vẫn theo thể thức chết: Đặt vấn đề và giải quyết vấn đề (một cách áp đặt). Phê bình (thật) đòi hỏi cung cấp một cách giải quyết vấn đề, nghĩa là phải có thông tin. Theo V: hình như giờ chỉ có một NQT thực sự nắm được thời sự văn nghệ thế giới. N thì đặc biệt yếu kém khoản đó do ngoại ngữ kém. (Không biết tiếng Anh). Do vậy cảm giác như chú Trụ rất trẻ. Như chỉ hơn VN mấy tuổi.
    Một tác phẩm hay là một tác phẩm gợi được một cảm giác 'đẹp' cho người đọc. Người ta có thể quên tất cả câu chuyện, nhưng nhớ một cảm giác. Và cái đó sẽ đưa người ta tìm về với tác phẩm trong những tâm trạng nhất định, không phải một lần.
    Thế một tác phẩm lớn? Không phải là một tác phẩm mà trong nó lịch sử được mô phỏng theo một tỷ lệ nào đó, dù đậm đặc. Nó phải soi sáng được tinh thần lịch sử, không phải của một giai đoạn, không dừng ở những biến cố, mà là, phải là những chuyển dịch sẽ sàng nhất của hồn người (phi thời gian và không gian, đôi khi)
    Lấy lịch sử soi vào một tác phẩm là một thao tác cần thiết. Nhưng lấy một tác phẩm soi vào lịch sử mới quan trọng. Nhưng như thế là đòi hỏi rất nhiều ở người viết tác phẩm và người viết về tác phẩm.
    Một lần nào đó chú đã nói rằng văn phải được chở bằng thơ. N cũng nghĩ thế. Những tác phẩm lý sự sắc sảo và quá bám vào hiện thực đang diễn ra thường hấp dẫn người đọc kinh khủng vào lúc đó, nhưng khi hiện thực đã là 'khác' và khi sự tò mò của người đọc về những ám chỉ, hoặc cao qúy hơn: nhu cầu phát huy trí thông minh cùng tác giả của họ được thỏa mãn thì tác phẩm sẽ bị để lên giá.
    Cấu trúc bài viết vừa rồi của chú dù chia phần rõ vẫn rất lạ. Lúc đầu N tưởng bị lẫn đoạn. Đó là cấu trúc của thơ. Trong đó có những suy diễn rất thích.
    N rất thú vị vì chú thích truyện ngắn của Võ Phiến. Nhìn thì thấy ngay tùy tạp của họ Võ không giống ai. Nhưng 'khác', trong một dòng chảy chung, thì đúng là truyện ngắn. Hồi đầu đọc N nể quá.
    Chú chỉ ra tính chất văn chương miền Nam và miền Bắc hay quá.
    V bảo chú Trụ dịch và viết thật lạ lùng, tràn đầy tình, ngay cả trong một thể loại đầy tính cãi cọ. Có lẽ văn chương phải thế, phải giống như một lời đi tìm tri kỷ, phải dạy người ta một diều gì đó nhưng không dạy đời.
    Hàng tháng N đều đọc chú cho thằng cu nghe. Cả tưởng niệm O. Paz làm V buồn cười. Hôm qua đọc được một nửa thì cháu ông trẻ ngủ. Như vẫn thường khi nghe đọc thơ.
    Kính.
    10.10.98
    Còn cái mail này, Gấu mạn phép vờ người gửi, lần Gấu gửi bài cho một "diễn đàn nào đó"!

    Anh NQT kinh,
    Toi da doc lai, ky hon, ban dich anh gui. Rat thich. Thich noi dung bai viet va cung thich cach dich rat bay buom cua anh. Doc ban dich, co cam tuong nhu doc van sang tac.
    Ban dich ay chac chan se gop phan lam cho [...] phong phu hon. Va cung sau sac hon.
    Khi nao dich xong cac title sach tu tieng Tay Ban Nha xong, xin anh gui cho som de toi bat dau lay-out.
    Xin cam on anh va kinh chuc anh va gia dinh an manh.
    *
    V bảo chú Trụ dịch và viết thật lạ lùng, tràn đầy tình, ngay cả trong một thể loại đầy tính cãi cọ.
    Tuyệt!
    Khen như thế thì Gấu này sướng mê tơi.
    Mong độc giả Tin Văn đọc mục "Dọn Kít" trong tinh thần của câu trên, của một độc giả Tin Văn.
    *
    To both of U, and family: Tks. Take care.
    NQT [and Thảo Trần].

    *
    Tờ Le Magazine Littéraire có tới hai số về Zweig. Bài viết Võ Phiến, nhà văn Bình Định của Gấu, dựa trên số báo cũ hơn, không nhớ số.
    *
    Kiếm thấy rồi. Số Tháng Hai 1997, một trong những số báo đầu tiên của Gấu, ở hải ngoại, thời gian viết cho Văn Học của NMG.
    Cái tít nhà văn Bình Định, dành cho VP, là từ cái tít Zweig, nhà văn Âu Châu.
    Gấu nhìn ra quan hệ thầy trò giữa hai ông nhà văn. Zweig, là từ địa linh nhân kiệt, ông thần đất Âu Châu, mà ra. Còn VP, từ Bình Định, và tất cả những địa linh nhân kiệt của nó, và cùng với họ, là những giấc mơ "hoang đường": Viết lại căn cước, lịch sử, và con người Mít qua những chiến công của Nguyễn Huệ: Vượt sông Bến Hải, ra Bắc, làm cỏ Mãn Thanh, dọn sạch Kít Bắc!
    *
    Trong những lần đụng trận với NTV, Gấu có kể, về cái cú mặc khải Cái Ác Bắc Kít, vào một buổi tối, [hình như vậy, một buổi tối], ở một thư viện Toronto, cầm lên cuốn Ngôn ngữ và Câm lặng...  thì anh lắc đầu, cái mày thấy đó, là ở trong mày. Steiner chỉ như chất xúc tác, làm bật nó ra. Chứng cớ là, tao đã từng đọc cuốn đó, ở Sài Gòn, vào những năm 1960, mà đâu có ‘mặc khải’ như mày!
    Tất cả những "mặt dầy" đi xin làm bồi, viết không công cho Chợ Cá, cho diễn đàn xứ khỉ ho cò gáy Kông Gô Ru… là đều do gợi ý của NTV, những ngày sau đó. Anh biểu Gấu, mày phải viết cho tất cả các “mặt trận”, để “hoành dương”, ‘thông tri” về Cái Ác Bắc Kít đến cho đám Mít hải ngoại, và trong nước. Một khi nhìn rõ kẻ thù, thì mới mong có ánh sáng ở cuối đường hầm!
    *
    Trong bài viết Ngợi ca nỗi quan hoài, Éloge du pessimisme, trên số báo Le Magazine Littéraire, Avril 2005, Olivier Postel-Vinay đọc hai cuốn của Steiner, Dix raisons (possibles) à la tristesse de pensée [Mười lý do (có thể) đưa đến nỗi buồn tư duy], Một ý nghĩa nào đó về Âu Châu, Une certaine idée de l'Europe, có nhắc đến một câu của Steiner, nói với tờ Le Magazine Littéraire, vào năm 2004: Văn hóa của chúng ta sao mà buồn quá. Nó tầm phào, [superficielle: phiến diện], nó giả đò, [faux-semblant]. Steiner buồn bã than. Ông truy nguyên nỗi buồn tầm phào, giả đò của đương thời có nguồn gốc từ nỗi buồn ngàn xưa, thổi về từ một vùng đất u tối, và là nền tảng của tri thức nhân loại. và ông đặt câu hỏi: Ở đâu ra cái nỗi buồn nền tảng của tư tưởng nhân loại, d'où vient la tristesse foncière de la pensée humaine?
    Trong cuốn Một ý nghĩ nào đó về Âu Châu, Steiner cho rằng, cái gọi là Suy Nghĩ Lớn, thật ra là sản phẩm của Âu Châu! [La "grande pensée" est une invention de l'Europe]. Nó là di sản kép của Athens và Jérusalem. Ánh sáng đâu có đến từ đâu đâu, mà là từ nguồn kép đó. Bởi vậy cơn hăm dọa về một cái chết của Âu Châu, cưu mang trong nó một nỗi buồn nguyên thủy.
    Zweig được vinh danh là nhà văn Âu Châu, và cái chết của ông gây chấn động giang hồ, là còn theo cái ý nghĩa ghê rợn, khủng khiếp như thế đó!
    Đặng Tiến đọc, và cảm nhận ra nỗi buồn hiu hắt trong văn phong của Võ Phiến. Cả một cuốn sách viết về Võ Phiến của nhà đại phê bình không thể có một nhận xét tương tự như vậy, về Võ Phiến, ấy là vì nhà phê bình chỉ mải khoe thứ văn hóa tào lao tầm phào giả đò mà ông đi chôm của người. Cái đọc của NHQ không có chiều sâu, không có cái gì của riêng ông, cái mà ông gọi là "chủ kiến" của nhà phê bình. Bởi vậy, Người viết hơn cả 10 cuốn sách, mà có ai thèm nhắc tới đâu!
    Ngồi lâu bên bờ sông là thể nào cũng có ngày nhìn thấy xác bạn quí bạn hiền... Sở dĩ Gấu chưa bao giờ nhắc lại chuyện cũ, ấy là vì còn mải lo trình bầy Suy Nghĩ Lớn về Cái Đại Ác Bắc Kít. Bây giờ rảnh rồi, Gấu sẽ dùng quãng đời bonus để... dọn Kít.
    Cũng là một việc làm công ích vậy!
    Sao không hiền trong khi chờ đi hử ông Gấu?
    Làm công ích mà không 'hiền' ư?


    Nói chuyện hấp diêm, đọc văn Võ Phiến
    Nhà văn Nobel Golding kể chuyện suýt làm thịt một em, khi 18 tuổi.
    Vào cái tuổi đó, thì "suýt" nhiều lần lắm. Làm đuợc hay không, là còn tùy cơ may!
    Gấu chắc cũng phải có một lần "suýt" như vậy, và nó là hứng khởi nhờ đó viết ra được Những Con Dã Tràng.
    Bà cụ C. đọc, phán, thằng này bịnh.
    Kundera cũng có một chuyện, bảnh hơn Golding, ông viết trong Một cuộc gặp gỡ, ngay đoạn mở đầu.
    *
    2
    « C'était en 1972. Je rencontrai une jeune fille en banlieue de Prague, dans un appartement qu'on nous avait prêté. Deux jours plus tôt, pendant toute une journée, elle avait été interrogée par la police à mon sujet. Elle voulait maintenant me rencontrer en cachette (elle craignait d'être suivie en permanence), pour me dire quelles questions on lui avait posées et ce qu'elle avait répondu. Il fallait qu'au cours d'un interrogatoire éventuel, mes réponses fussent identiques aux siennes.
    « C'était une toute jeune fille qui ne connaissait encore guère le monde. L'interrogatoire l'avait troublée et la peur, depuis trois jours, n'arrêtait pas de remuer ses entrailles. Elle était très pâle et sortait sans cesse, pendant notre entretien, pour aller aux toilettes - si bien que toute notre rencontre fut accompagnée par le bruit de l'eau qui remplissait le réservoir.
    « Je la connaissais depuis longtemps. Elle était intelligente, pleine d'esprit, elle savait parfaitement maîtriser ses émotions et était toujours habillée si impeccablement que sa robe, tout comme son comportement, ne permettait pas d'entrevoir la moindre parcelle de sa nudité. Et voilà que, tout d'un coup, la peur, tel un grand couteau, l'avait ouverte. Elle se trouvait devant moi, béante, comme le tronc scindé d'une génisse suspendu à un croc de boucherie.
    «Le bruit de l'eau remplissant le réservoir des W.-C. n'arrêtait pratiquement pas et, moi, j'eus soudain envie de la violer. Je sais ce que je dis: de la violer, pas de lui faire l'amour. Je ne voulais pas sa tendresse. Je voulais poser brutalement la main sur son visage et, en un seul instant, la prendre tout entière, avec toutes ses contradictions si intolérablement excitantes: avec sa robe impeccable comme avec ses boyaux en révolte, avec sa raison comme avec sa peur, avec sa fierté comme avec son malheur. J'avais l'impression que toutes ces contradictions recélaient son essence: ce trésor, cette pépite d'or, ce diamant caché dans les profondeurs. Je voulais la déposséder, en une seule seconde, autant avec sa merde qu'avec son âme ineffable.
    “Mais je voyais ces deux yeux qui me fixaient, pleins d'angoisse (deux yeux angoissés dans un visage raisonnable), et plus ces yeux étaient angoissés, plus mon désir devenait absurde, stupide, scandaleux, incompréhensible et impossible à réaliser.
    «Déplacé et injustifiable, ce désir n'en était pas moins réel. Je ne saurais le renier - et quand je regarde les portraits-triptyques de Francis Bacon, c'est comme si je m'en souvenais. Le regard du peintre se pose sur le visage comme une main brutale, cherchant à s'emparer de son essence, de ce diamant caché dans les profonndeurs. Certes nous ne sommes pas sûrs que les profonndeurs recèlent vraiment quelque chose - mais quoi qu'il en soit, en chacun de nous, il y a ce geste brutal, ce mouvement de la main qui froisse le visage de l'autre, dans l'espoir de trouver, en lui et derrière lui, quelque chose qui s'est caché. »
    *
    Tôi đọc Võ Phiến rất sớm, một phần là do ông anh rể, Nguyễn Hoạt. Ông lúc đó cùng bạn bè chủ trương tờ nhật báo Tự Do, và sau đó, còn làm nhà xuất bản, nơi đã từng in cuốn Kể Trong Đêm Khuya (?) của Võ Phiến. Tôi đọc VP trước đó ít lâu, khi ông anh mang về nhà mấy tờ báo mỏng dính, in ấn lem nhem, như tự in lấy, tờ Mùa Lúa Mới, phát hành đâu từ miền Trung. (1) Tôi chỉ nhớ cái thuở ban đầu làm quen những nhân vật của ông, không còn nhớ đã từng viết về ông, một phần là do, thời gian sau đó, tôi mải mê, ngấu nghiến đọc những tác giả, mà tôi hy vọng họ giúp tôi giải thích tại sao sinh ra, tại sao sống, tại sao chết, tại sao có cuộc chiến khốn khổ khốn nạn đó...
     Những tác giả, thí dụ như Camus, mà câu văn sau đây không thể nào gỡ ra khỏi ký ức, kể từ lần đầu tiên đọc nó, khi mới lớn, trong Sài Gòn...
     Tôi lớn lên cùng với những người của thế hệ tôi, cùng những tiếng trống của Cuộc Chíến I, và lịch sử từ đó, không ngừng chỉ là sát nhân, bất công, và bạo lực...
     [Nguyên văn câu tiếng Tây, hình như là như sau đây,  tiếc rằng, không làm sao tìm lại được "nguyên con", để so sánh: J'ai grandi avec tous mes hommes de mon age, aux tambours de la première guerre, et l'histoire depuis, n'a pas cessé d'être meurtre, injustice, et violence..]
    Chỉ một phần thôi...
    Lý do tôi không đọc Võ Phiến nữa, chính là nhờ ông, tôi lần ra một tác giả khác, giải quyết giùm cho tôi, một số câu hỏi mà những nhân vật của Võ Phiến không thể vượt qua được. Đó là  Stefan Zweig....
    Nhân vật của Võ Phiến rất giống nhân vật của Zweig. Tôi không hiểu ông đã từng đọc Zweig, trước khi khai sinh ra những Người Tù,  Kể Trong Đêm Khuya, Thác Đổ Sau Nhà... với những con người phàm tục, bị cái libido xô đẩy vào những cuộc phiêu lưu tuyệt vời, khi thoát ra khỏi, lại nhờm tởm chính mình, nhờm tởm cái thân thể mình đã dính bùn, sau khi bị con quỉ cám dỗ.... Nhân vật của Zweig cũng y hệt như vậy, trừ một điều: họ đều muốn lập lại cái kinh nghiệm chết người khủng khiếp đó. Và cú thử thứ nhì, lẽ dĩ nhiên là thất bại, nhưng nhờ vậy, họ vẫn còn là người, vẫn còn đam mê, vẫn còn đủ sân si... (2)
    Cái đòn thứ nhì này, tôi gọi là đòn gia bảo, gia truyền, không thể truyền cho ai, bất cứ đệ tử nào, như trong Thuyết Đường cho thấy, Tần Thúc Bảo không dám dạy La Thành cú Sát Thủ Giản, mà La Thành cũng giấu đòn Hồi Mã Thương...
    Trong truyện Ngõ Hẻm Dưới Ánh Trăng, anh chồng biển lận khiến cô vợ quá thất vọng bỏ đi làm gái. Anh chồng tìm tới nơi, lạy lục, than khóc, cô vợ mủi lòng quá, bèn quyết định từ giã thiên thai, trở về đời. Trong bữa ăn  từ giã thiên thai, anh chồng không thể quên tính trời cho, tóm tay anh bồi đòi lại mấy đồng tiền tính dư, cô vợ chán quá, bỏ luôn giấc mộng tái ngộ chàng Kim.
    Hay trong Người Chơi Cờ, nhân vật chính, nhờ chôm được cuốn thiên thư dạy chơi cờ, mà qua được địa ngục. Về đời, thần tiên đã căn dặn, chớ có chơi cờ nữa, nhưng làm sao không? Chơi lần sau, là đi luôn!
    Nhân vật của Võ Phiến, sau cú đầu là té luôn, không gượng dậy được nữa. Thí dụ cái cô trong Thác Đổ Sau Nhà, gặp lại Người Tình Trong Một Đêm, bỗng tởm chính mình: Cớ sao lại ngã vào một tay cà chớn tới mức đó!
    Hay nhân vật Toàn (?) yêu cô gái, con một tay công chức (?), thất tình, anh bỏ đi theo kháng chiến, thay cái "libido" bằng "cách mạng", cuối cùng chết mất xác, không thể trở về đối diện với chính mình, với người yêu đầu đời...
    Ông bố cô gái, nếu tôi nhớ không lầm, thường viết thư sai con đưa tới mấy ông bạn cũ, để xin tiền. Lúc rảnh rỗi, hai cha con không biết làm gì, bèn đóng tuồng, con giả làm Điêu Thuyền, bố, Lã Bố...
    Võ Phiến còn một truyện ngắn, không hiểu sau khi ra hải ngoại, ông có cho in lại không, đó là truyện một anh CS về thành, được trao công việc đi giải độc. Giải độc mãi, tới một bữa, anh nhận ra là thiên hạ chỉ giả đò nghe anh lảm nhảm  tố cộng, nhưng thật sự là đang lo làm việc khác... Tôi không hiểu có phải đây là một thứ tự truyện hay không.
    Lần trở lại đất bắc, tôi gặp một ông rất có uy tín, cả trong giới văn lẫn giới Đảng, (đã về hưu). Ông cho biết, vụ VP bị CS bắt là hoàn toàn có thiệt. Nhưng chuyện ông được tha, không phải như Tô Hoài cho rằng mấy anh đưa người ra bắc trong chiến dịch tập kết năm 1954 đã bỏ sót, mà do một tay tỉnh ủy (?) có máu văn nghệ, đã ra lệnh tha, cho về thành....
    Sở dĩ tôi không thể nhớ đã từng viết về VP, một phần là do lớp chúng tôi chờ mong ở ông cái cú hồi mã thương, tức là cái kinh nghiệm ăn ở với người CS của ông, nó ghê gớm ra làm sao. Sau này, chúng tôi đọc, ở những tác giả khác, Koestler chẳng hạn... Có thể, khi giữ trang VHNT cho Tiền Tuyến, do cần bài, tôi đã viết về ông, và sau này, NXH đã đăng lại trên Văn. Nguyễn Hưng Quốc, trong bài viết "Có mấy NQT", trên Talawas, nhận định, ông không coi những bài viết về VP trước 1975 có giá trị [... của Phan Lạc Phúc, Mai Thảo, Ðỗ Tấn, cô Phương Thảo, Huỳnh Phan Anh, Viên Linh, Nguyễn Quốc Trụ, và Nguyễn Ðình Toàn.... tôi không xem các bài viết hay các trích đoạn ấy có giá trị văn chương hay sử liệu gì quan trọng], những tác giả khác, không dám nói, nhưng với của tôi, cái dở đó có thể còn vì  lý do, là VP đã ở ngoài những thắc mắc văn chương của lớp chúng tôi.
    Qua NHQ, bài viết của tôi về VP có tên là "Thế Giới Truyện Ngắn Võ Phiến": Đã có một thời, thời mới lớn, thế giới đó quả đã ám ảnh cả đám chúng tôi... Cái cảnh mà tôi miêu tả, trong truyện ngắn đầu tay, Những Con Dã Tràng, có thể đã được viết dưới ánh sáng của thế giới truyện ngắn Võ Phiến:
    "Một lần tôi vào xóm chơi bời, đi theo một đứa con gái vào một căn phòng nhỏ, hôi hám, chật hẹp. Ngọn đèn dầu le lói chiếu sáng căn phòng đỏ lờ đờ. Khi tôi quay lại nhìn, cô gái nằm trên giường, thản nhiên chờ đợi, chẳng thèm để ý tới tôi. Đúng lúc đó, tôi chợt nhớ đến một buổi tối ở nhà T. Lúc đó T. đang ngủ. Nàng ngồi choàng dậy, thảng thốt nói: "Không, ai dậy anh làm vậy?" Tôi cười gượng gạo: "Đó chỉ là khám phá bản thân, khám phá thân thể em và anh." Tôi nói gần như thét với đứa con gái: "Cởi quần áo ra!", sự hổ thẹn theo tôi tới tận lúc đó...."
    Ôi chao, cái thời mới lớn....
    Bà cụ bạn Cụ Chất, mới đây thôi, trong lần Gấu điện thoại qua Mỹ hỏi thăm, còn nhắc, nhớ ngày nào tính bê tượng Đức Bà về trước căn nhà ở đường Cao Thắng...
    Để sáng chúa nhật, cô con gái của  Cụ đỡ phải mất công ra tận Vương Cung Thánh Đường Sài Gòn...
    NQT
    (1) Tờ Mùa Lúa Mới, là của Nha Thông Tin Trung Phần, do Thu Tâm (tức Võ Thu Tịnh, giám đốc nha thông tin Trung Việt lúc ấy) làm chủ nhiệm, Đỗ Tấn làm thư ký tòa soạn. Khổ nhỏ... không đến trăm trang, in ngay tại nha Thông Tin bằng một máy cổ lỗ...
    (Trích Võ Phiến:Văn Học Miền Nam, Tổng Quan). Trong bài tựa, VHMN. TQ,  Võ Phiến viết:
    ..... Tập sách này được hoàn tất là do sự giúp đỡ tài chánh của Ủy Ban Nghiên Cứu Khoa Học Xã Hội...
    Không hiểu, Ủy Ban này  là của Mỹ (đại học, hay tư nhân)? Và nếu của Mỹ, tên tiếng Anh của nó?  Hay của Văn Học Hải Ngoại...? NQT
    (2) Trong bài viết [về nhà văn Hòa Lan], Marcellus Emants: A Posthumous Confession [in trong Stranger Shores, nhà xb Viking, NY, 2001], Coetzee cho rằng, nhận xét của Emants, trong một tiểu luận về Turgenev, cũng có thể áp dụng cho chính ông ta [và với tôi, cho Võ Phiến]: Khi còn trẻ [Emants viết], chúng ta tạo ra một lý tưởng kỳ quái về một cái tôi mà chúng ta mong muốn là [cái tôi đó]. Nhưng cuộc đời của chúng ta, với những kiểu cọ của nó, khốn thay, được xác định không phải bởi lý tưởng, mà là bởi những sức mạnh vô thức ở bên trong chúng ta.
    Chính những sức mạnh vô thức này thúc đẩy chúng ta hành động, và chính những hành động này, sau cùng làm bật ra cái con người mà chúng ta thực sự là. Cái sự cố gắng vô ích, làm sao cho lý tưởng ăn khớp với những sức mạnh vô thức kia, làm chúng ta vỡ mộng, và đau, đau lắm. Nỗi đau càng nhức nhối, khi chúng ta nhận ra, cái hố thẳm không thể vượt qua, giữa lý tưởng và cái tôi thực sự.
    Áp dụng vào trường hợp Võ Phiến, tôi nghĩ, việc ông theo CS là nhằm lấy tập thể hủy diệt cái tôi - một cái tôi bịnh hoạn, thí dụ như nhân vật mang dấu bàn chân của vợ ghi lên ruộng, ở ngoài đồng, về nhà thờ... Và khi thất bại, trở về thành, ông hủy diệt cái tôi đó, bằng cách viết ra, theo nghĩa: viết tức là chữa trị, chữa trị bằng cách phơi bày...
    Emants được coi là nhà văn thuộc trường phái những nhà văn "Tự Nhiên" (Naturalists), bởi vì ông (như anh em nhà Goncourt) quan tâm tới cuộc sống dục tính che giấu của giới trưởng giả, và (như Zola), ông dùng ngôn ngữ của những khoa học mới về di truyền, dòng dõi, và tâm lý trị liệu, để giải thích những động cơ của con người, nhưng vẫn theo Coetzee, trong khi những nhà văn Tự Nhiên viết loại tiểu thuyết kinh nghiệm (roman expérimental), dựa vào những "data", Emants tới với những chất liệu của ông bằng con đường của hồi nhớ, cơ may, và introspection (xem xét nội tâm) [tương tự Võ Phiến], những người đi trước ông thuộc những nhà văn hiện thực Âu Châu, đặc biệt là Flaubert và Turgenev.
    NQT
    *
    Cái vụ lần thứ ba Gấu tính về, đã sửa soạn xong xuôi, thông báo một số nơi chốn, địa chỉ quen thuộc, bỗng thấy ơn ớn, bèn mail cho một anh bạn, một con người bí ẩn chẳng khác chi Người Không Mặt PXA, như sau này Gấu nghe phong thanh. Anh bèn mail, từ một cái địa chỉ lạ hoắc, này, đừng có dại mà về, thời tiết Hà Nội không còn đẹp như hai lần anh về đâu!
    Gấu bèn mail tiếp, nhưng về Sài Gòn thì có được không, thời tiết Sài Gòn có đẹp không…
    Những sự kiện trên là hoàn toàn có thật, bạn đọc Tin Văn có thể coi chúng là những “sự kiện lịch sử”, đừng nghĩ Gấu này phịa ra để đánh bóng Gấu!
    Và, đúng như người ta nói, nhiều khi sự thật còn “giả tưởng hơn cả giả tưởng”, theo nghĩa, bạn đọc, và không thể nào tin là thực!
    Cái đoạn tiếp theo của chuyến đi bất thành này, mới ly kỳ rùng rợn.
    Gấu viết đến đây, bèn ngưng, chờ động tịnh từ phía người xưa. Coi anh, và “người đó” có cho phép viết ra hay là không, và viết ra có ảnh hưởng đến "sự nghiệp chính trị" của những người liên quan hay là không…
    Nếu nhận được cái mail cảnh cáo, NO, thì xin lỗi bạn đọc, Gấu đành stop!
    *
    Võ Phiến là một khuôn mặt lớn của văn học Miền Nam. Yêu hay ghét ông, thì cũng phải có một cái gì đó đàng hoàng về ông, công, tội ra sao, đại khái theo kiểu đó, tốt nhất là trước khi ông đi tầu suốt.
    Gấu sẽ đọc lại Võ Phiến theo tinh thần đó, dựa vào trường hợp người tiền nhiệm của ông, nhà văn Âu Châu, Zweig
  • NHT vs Kurtz

    Happy Birthday to U, Grandpa

    20 năm trước, 1989, Bức Tường Bá Linh sụp đổ

    Nguyễn Thuỵ Long ra đi
    Nguyễn Trọng Khôi cho biết:
    Nhà văn Nguyễn Thụy Long (sinh 1938), tác giả những Loan mắt nhung, Kinh nước đen lừng danh trước năm 1975 và vài chục bộ tiểu thuyết từ năm 1975 tới nay vừa trút hơi thở lúc 14 giờ ngày 3 tháng 9 năm 2009 tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định.

    William Golding: The Man Who Wrote “Lord of the Flies”
    …. a cruel twist for a man who is famous for just one book

    Robert McNamara

    He learned most of the lessons of Vietnam too late

    He was haunted by the thought that amid all the objective-setting and evaluating, the careful counting and the cost-benefit analysis, stood ordinary human beings. They behaved unpredictably. During the Cuban missile crisis of 1962, which he had lived through at cabinet level, “Kennedy was rational. Khrushchev was rational. Castro was rational.” Yet between them they had pushed the world to the brink. Rationality, he concluded, “will not save us.” Perhaps what would were the little quirks that had made him love John Kennedy: the president’s sudden capacity to be empathetic, surprised, intuitive, and ready to jettison his most confident calculations.
    Ông bị ám ánh bởi điều, giữa một đống những tính toán, nghiên cứu, đánh giá, lên kế hoạch, đong đo cân đếm… là con người bình thường, Họ xử sự rất bất thuờng, nghĩa là đếch làm sao biết trước được. Trong cuộc khủng hoảng hoả tiễn Cu Bố, Cu Thầy vào năm 1962 mà ông trải qua, “Kennedy thì hữu lý. K. thì hữu lý. Castro thì hữu lý.” Vậy mà họ đẩy thế giới tới bờ vực thẳm.
    Hữu lý, ông kết luận, ‘đếch cứu được chúng ta”.
    Ui chao, còn cái gì hữu lý hơn là chân lý “Lước Việt Lam Nà Một”!



    Polar

    Kỷ niệm, kỷ niệm
    Một thời để yêu, để hát, và để chết
    To die for others is difficult enough.
    To live for others is even harder.
    G. Steiner: Errata
    Giữa “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” và “Ngày mai đi nhận xác chồng” là chân lý:
    Chết vì người đã khó, sống vì người còn khó hơn?

    *
    Nhà thơ Lê Thị Ý, người được độc giả đón nhận bàng hoàng khi biết chính là tác giả bài thơ dội vang tình cảm người đọc trong thời chiến tranh khốc liệt. Bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, được người đọc lấy câu thơ đầu trong bài để gọi tên: “Ngày mai đi nhận xác chồng.”

    Thực ra, “Ngày mai đi nhận xác chồng” có tên nguyên tác là “Thương Ca 1” trong một chuỗi năm bài Thương Ca được ghi số Thương Ca 1, Thương Ca 4, Thương Ca 5, Thương Ca 6, và Thương Ca 8.
    Nhắc chuyện cũ, tác giả Lê Thị Ý cho biết thêm, “Bài thơ được chọn đăng trên tờ Tranh Ðấu của sinh viên Sài Gòn. Học giả Nguyễn Ðức Quỳnh đọc được đã gửi cho bạn ông là nhạc sĩ Phạm Duy và Phạm Duy đã phổ nhạc rồi cho phổ biến trên các đài phát thanh lúc bấy giờ. Chỉ sau một thời gian ngắn thì bị cấm.”
    Nói về hoàn cảnh bài thơ được khai sinh, tác giả Lê Thị Ý cho biết, “Nhà tôi ở gần nhà xác trên Pleiku. Khi ấy vào những năm 1969, 70 chiến tranh đang diễn ra thật khủng khiếp. Không ngày nào nhà xác không nhận thêm được xác những chiến binh QLVNCH hy sinh tại chiến trường. Và những người vợ trẻ thì đứng đầy quanh nhà xác với những vành tang trắng thê lương nên hồn thơ được nhập đầy những cảnh thê lương ấy.
    “Em không thấy được xác chàng,
    Ai thêm lon giữa hai hàng nến trong?
    Mùi hương cứ tưởng hơi chồng,
    Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai...”
    Nguồn Người Việt
    Nhà thơ Lê Thị Ý, nghe nói, là em gái nhà thơ Vương Đức Lệ (Lê Đức Vượng).
    Không biết có đúng không.

    Cái chi tiết về NDQ đọc, và gửi cho PD, tuyệt!
    Có lẽ đã đến lúc phải viết về cái kỷ niệm nghe bản nhạc trong tù VC rồi đấy. Gấu bảo Gấu.
    Gấu đã lèm lèm vài lần về kỷ niệm này, nhưng chưa viết hết về nó, theo nghĩa, chưa báo cáo độc giả Tin Văn, để được nghe bản nhạc đó, Gấu phải trải qua những cơ may huyền diệu, sau những đau khổ khủng khiếp như thế nào!
    Gấu có cảm tưởng, bản nhạc PD sáng tác là chỉ để dành riêng cho Gấu, trong cái dịp trọng đại đó.
     Nó ra đời là để chờ gặp Gấu, vào bữa đó.
    Cái món quà con K trao cho Gấu, khi Gấu đi vô tù VC để gặp nó!
    *
    Theo server, thì 3, trong số “top 10”, của 1011 search key phrases, của Tin Văn, là:
    Phố vẫn hoang vu từ lúc em đi
    Tiếng hát ru em còn nuối trên môi.

    Và:
    Ngày mai đi nhận xác chồng.
    Ui chao, sao mà tuyệt đến như thế, hở Trời!
    Nằm mơ cũng không thể tưởng tượng ra được, một điều tuyệt đến như thế.
    *

    Nhà thơ Lê Thị Ý là em của Vương Đức Lệ, qua bài phỏng vấn trên báo Người Việt cho biết.
    -ÐQAThái: Khi phổ thành ca khúc, hình như Phạm Duy có sửa vài lời trong bài thơ?
    -Nhà thơ Lê Thị Ý: Ðúng vậy. Có lẽ ông Phạm Duy sửa vài chữ cho nó hòa hợp với âm điệu bài nhạc hơn. Có câu ông Phạm Duy cắt bớt. Thí dụ câu tôi viết, “Chiếc quan tài phủ cờ màu, hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng” thì Phạm Duy sửa thành “Bây giờ anh phủ mầu cờ” và cắt đi câu thơ kế tiếp.
    -ÐQAThái: “Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng”, tại sao lại phũ phàng ạ?
    -Nhà thơ Lê Thị Ý: Khi đau đớn thì cái gì cũng phũ phàng cả. Phũ phàng là hình ảnh đau đớn, quằn quại.
    Tuyệt! Thơ được trao cho thi sĩ, là như vậy đó. Đám thi sĩ dởm làm sao biết một chân lý đơn giản như vậy. Cái tay ký giả thì bị ám ảnh bởi mấy cái vạch cờ ba sọc, nên mới théc méc,"tại sao lại phũ phàng ạ"!
    Cũng ý này, Lão Tử phán, thiên địa bất nhân dĩ vạn vật như sô cẩu [Gấu nhớ đại khái, không biết có đúng không, cái này là tán phó mát thêm!]
    *
    Thật tiện lợi, khi hồi nhớ làm việc được cả hai chiều”.
    “Hồi nhớ của tôi chỉ làm việc một chiều”. Alice nói. “Tôi không thể nhớ chuyện, trước khi nó xẩy ra”.
    “Quá nghèo nàn, thứ hồi ức chỉ nhớ chuyện đã qua”. Hoàng hậu nói.
    “Bà nhớ rành rọt nhất, là những chuyện gì?”. Alice dò hỏi.
    "Ồ! Những chuyện xẩy ra tuần lễ tiếp theo tuần tới”. Bà Hoàng thản nhiên nói.
    (Through the Looking Glass).

    Bài Ngày mai đi nhận xác chồng này Gấu đọc lại, mới nhớ ra đây là một bài viết bỏ lửng, tính viết tiếp, rồi quên luôn.
    Vào lúc đang viết đó, Gấu đụng vô, cái gọi là sự “chúc dữ của nước”, tạm gọi như vậy, mô phỏng điều mà Koestler gọi là sự "chúc dữ của cái vòng tròn", la malédiction du cercle, giáng lên văn minh Tây Phương.
    Vì quá mê cái vòng tròn mà văn minh Tây Phương mất mẹ nó mất hai ngàn năm, đến khi Kepler khám phá ra quỹ đạo của các hành tinh là hình bầu dục [ellipse], điều mà hai ngàn năm trước đó Pythagore đã biết rồi!
    Đây là hiện tượng đọc ra điềm triệu, "nhìn thấy ma", như Mít chúng ta thường gọi, hẳn thế?
    Nói rõ hơn, Gấu biết trước thằng em của Gấu sẽ chết, ngay ngày đầu tiên, khi nó vô trường sĩ quan Thủ Đức.
    Và sẽ chết vì nước!
    Anh cu cậu đi tuần tra vòng đai phi trường Sóc Trăng.


    Kurtz trong Trái Tim của Bóng Đen là một hình tượng về cái ác trong văn chương. Anh thì quá nổi tiếng, nhưng cũng gây phiền. Nguyên do của nỗi phiền muộn này rõ ràng là sự lấp lửng của hai cách nhìn, qua đó, anh lần lượt xuất hiện, khi thì là hiện thân của cái ác tuyệt đối, một vết chàm biểu tượng, từ đó bật ra cái tít cuốn truyện, khi thì là một cá nhân con người vượt lên trên cả tốt lẫn xấu, thiện lẫn ác.
    Nhân viên của một công ty thương mại thuộc địa ở mãi nơi thượng nguồn con sông Congo, anh thu thập ngà voi cho công ty giữa đám thổ dân và tỏ ra hết sức cần mẫn, rất ư là hiệu quả.
    Người kể chuyện của cuốn truyện phải lái một con thuyền đi tìm gặp Kurtz này, vì đã lâu, biệt tin từ anh ta, và nghe nói, anh ta đang bịnh nặng.
    Hai tính chất ở ngay trung tâm nghiên cứu chữa trị lâm sàng, dành cho những vấn đề đạo đức trong tất cả những tác phẩm của Conrad, ùa ra cùng với sự xuất hiện của Kurtz, cùng với chúng là những phẩm chất bẩm sinh, do là dân Bắc Kít thì là có, qua những biểu hiện thật là quái đản của anh ta.
    Thứ nhất: thiếu vắng kiềm chế. Kurtz có những giấc mộng về vinh quang, về Hà Nội ta ngẩng đầu hiên ngang ba ngàn năm lịch sử, và về sở hữu toàn thể, cái gì của ai là của ta. Những giấc mộng như thế thật dễ dàng biến thành thực tại một khi một mình giữa rừng thẳm.
    Thứ nhì: một sự trống rỗng ở phía bên trong: Kurtz thì rỗng, rỗng một cách thê thảm [hollow at the core, ui chao, cụm từ này sử dụng để chỉ cái sự ngu si dốt nát nhưng coi trời bằng vung của những đấng Yankee mũi tẹt thì thật tuyệt!].
    Rỗng đến nỗi, cái thiên nhiên man rợ vây bủa chung quanh anh ta bèn chiếm lấy anh ta một cách dễ dàng, đúng vào lúc anh ta tưởng là làm chủ được nó, tất cả thuộc về anh ta.
    Nói tóm gọn anh ta không thể tự ngăn cấm mình, giới hạn mình, và cũng không thể tự chống đỡ, bảo vệ mình.

    Sutpen vs Kurtz:
    The Decomposing Archetypes of Thomas Sutpen and Mr. Kurtz in the Motley Flag of Modernism

    Sartre, khen nắc nỏm Âm thanh và Cuồng nộ, nhưng chê hết lời Sartoris, coi đây là thứ nghệ thuật đánh lừa con mắt.
    Lạ, là Borges lại coi đây, thứ nghệ thuật mà con mắt của Faulkner, là thứ thượng thừa, khi viện dẫn một câu của Boileau, để minh chứng: ”Cái thực đôi khi có thể chẳng có vẻ thực: Le vrai peut quelquefois n’être pas vraisemblable.”
    Trong Borges a Reader, có ba bài điểm, review, thật ngắn, của Borges, về ba tác phẩm của Faulkner: The Unvanquished, Absalom, Ansalom!, The Wild Palms.
    Three Reviews

    Gấu nhà văn

    Kurtz des ténèbres [Kurtz của bóng đen]

    Bien qu'il n'ait jamais disparu, le courant brun qui coulait rapidement du cœur des ténèbres vers la mer en nous emportant sur le fleuve Congo est de retour. Et avec lui revient le personnage de Kurtz qui, lui non plus, n'a jamais disparu, ou s'il l'a fait, il était « parti très loin, comme dirait Kafka, pour rester ici ».
    Thì, tất nhiên, nó chẳng bao giờ biến mất, cái dòng nước đục ngầu, đỏ như máu, của sông Hồng, chảy từ trái tim của bóng đen, là thành phố Hà Nội, ra biển, đưa chúng ta dạt dào lưu vong, sau khi thoát hải tặc Thái lan, mãi tít tới miệt Công Gô, và, ăn Tết Công Gô xong, lại trở về.
    Và cùng về với nó, là nhân vật Kurtz; anh này, tất nhiên, cũng chẳng hề biến mất, hay là, nếu anh ta làm như thế, “anh ta đi rất xa, nói như Kafka, để ở lại đây”.
    Ui chao, nghe cảm khái cứ như thi sĩ Huỳnh Văn Nghệ, và những đấng Yankee mũi tẹt, giang hồ khắp thế giới, đi đến đâu là biến nhà người, đất người thành bãi đánh hàng:
    Từ thuở mang gươm đi dựng nước
    Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long

     *
    Cầu Việt Trì, trên sông Hồng, nơi ông cụ Gấu, vào năm 1946, được một đấng học trò làm thịt,
    xong, thẩy xuống sông, kèm cục đá tổ bố, để cho khỏi nổi lên.

    Kurtz, như thế, họ hàng với Colonel Sutpen, trong Absalom, Absalom!
    Cũng dòng Yankee mũi tẹt, gốc gác Hải Dương [cùng quê PXA], hay Sơn Tây [cùng quê Tướng Râu Kẽm]?
    Gấu bảnh hơn cả PXA & Râu Kẽm: Sinh Hải Dương, nhưng gốc dân Sơn Tây!
    Gấu về Bắc lần đầu, năm 2000, là để tìm hỏi coi ông bố mình mất ngày nào, và đến chỗ ông mất, trên, ngày xưa chỉ là một bãi sông, thắp nén hương cho bố, rồi đi.
    Mấy ông bạn văn VC nói, đi làm cái quái gì nữa, anh mua cái nhà, khu Thanh Xuân chẳng hạn, vừa gần Tướng Về Hưu vừa gần tụi này!
    Đi rất xa, chỉ để ở lại đây!
    Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm!
    *
    Motifs
    In the novel, Conrad uses the river as the vehicle for Marlow to journey further into the "heart of darkness." The descriptions of the river, particularly its depiction as a snake, reveal its symbolic qualities. The river "resembl[es] an immense snake uncoiled" and "it fascinates [Marlow] as a snake would a bird." Not only is Marlow captivated by the river, representing as it does the jungle itself, but its association with a snake gives this "fascination of the abomination" its metaphorical characteristics. The statement that "the snake had charmed me" alludes to both the idea of snake charmer and the snake in the story of Genesis. While typically, a snake charmer would charm the snake, in this case, Marlow is charmed by the snake, a reversal which puts the power in the hands of the river, and thus the jungle wilderness. Furthermore, the allusion to the snake of temptation from the story of Adam and Eve demonstrates how the wilderness itself contains the knowledge of good and evil, and upon entering that wilderness Marlow will be able to see, or at least explore, the characteristics of humanity as well as good and evil.
    Heart of Darkness [Wikipedia]
    Miêu tả sông Hồng, đặc biệt, như một con rắn, làm bật ra chất biểu tượng của câu chuyện... Nó hớp hồn Marlow, như con rắn trước con chim [như con cua NDT co rúm người trước con ếch TH! Coi hồi ký NDM]
    Reception
    In a post-colonial reading, the Nigerian writer Chinua Achebe famously criticized the Heart of Darkness in his 1975 lecture An Image of Africa: Racism in Conrad's "Heart of Darkness", saying the novel de-humanized Africans, denied them language and culture, and reduced them to a metaphorical extension of the dark and dangerous jungle into which the Europeans venture. Achebe's lecture prompted a lively debate, reactions at the time ranged from dismay and outrage—Achebe recounted a Professor Emeritus from the University of Massachusetts saying to Achebe after the lecture, "How dare you upset everything we have taught, everything we teach? Heart of Darkness is the most widely taught text in the university in this country. So how dare you say it’s different?"[3]—to Cedric Watts' A Bloody Racist: About Achebe's View of Conrad (1983),[4] which sets out to refute Achebe's critique. Other critiques include Hugh Curtler's Achebe on Conrad: Racism and Greatness in Heart of Darkness (1997).[5]
    In King Leopold's Ghost (1998), Adam Hochschild argues that literary scholars have made too much of the psychological aspects of Heart of Darkness while scanting the moral horror of Conrad's accurate recounting of the methods and effects of colonialism. He quotes Conrad as saying, "Heart of Darkness is experience...pushed a little (and only very little) beyond the actual facts of the case."[6]
    Heart of Darkness is also criticized for its characterization of women. In the novel, Marlow says that "It's queer how out of touch with truth women are." Marlow also suggests that women have to be sheltered from the truth in order to keep their own fantasy world from "shattering before the first sunset."
    Adaptations
    The most famous adaptation of Conrad’s Heart of Darkness is Francis Ford Coppola's 1979 movie Apocalypse Now, which translates the context of the narrative from the Congo into Vietnam and Cambodia.
    Heart of Darkness [Wikipedia]
    *
    NHT cũng một thứ Kurtz, nhưng chẳng bao giờ rời xứ Bắc Kít!
    Bảnh nhất trong những Trái Tim của Bóng Đen!
    Ông Trùm.
    Chẳng cần đi rất xa, và cứ ở mãi đây!
    *

    Ông hẳn là... Mr Thiệp?

    Trái Tim của Bóng Đen ở đâu?

    Bạo chúa Mobutu Sese Seko, trị vì từ 1965 tới 1997, đổi tên nước là Zaire, và “đòi” đất nước “trả công” cho ông: 4 tỉ, hơn cả con số chắt chiu dành giụm trong bao nhiêu năm trời của vua Bỉ Leopold II. Ông và thân quyến, đệ tử… vắt kiệt xứ sở đến nỗi, khi bạo quyền cáo chung, người dân ở đây còn thê thảm hơn thời kỳ cáo chung của 80 năm thực dân thuộc địa. Đám viên chức của cái chính quyền bị phá sản đó đã cứ thế mà đánh nhanh rút gọn, vơ vét cào cấu bằng đủ mọi trò có thể nghĩ ra được: đánh cướp chính mình, tức là biến đồng tiền đang là của chung thành của riêng, ăn hối lộ… (liệu chúng ta có thể tưởng tượng ra nổi, thời kỳ cáo chung của chủ nghĩa toàn trị ở trong nước?).


    Đọc lại V[I]P

     

     

Tuesday, 19 May 2009

  • New film at Cannes

    Francis Ford Coppola's “Tetro”

    May 14th 2009
    From The Economist print edition

    The director of “The Godfather” is back at the helm


    FRANCIS FORD COPPOLA, who turned 70 last month, says that “Tetro” is the kind of film he set out to make as a young man, before fame and fortune sidetracked him. Showing at this year’s Cannes film festival, which opened on May 13th, “Tetro” is Mr Coppola’s second feature after ten years of silence and only the fourth he has made from a story of his own devising. One of these, “Dementia 13”, his youthful axe-murder opus, is referred to in “Tetro” when his protagonist arrives at a prize ceremony carrying an axe.

    Tetro (Vincent Gallo), whose real name is Angelo, is not fond of fame. His father, Carlo Tetrocini (Klaus Maria Brandauer), is a monster from whom Tetro has fled to Buenos Aires on a “writing sabbatical”. Here for the past ten years he has been working in a theatre unable to finish his magnum opus.

    Tetro keeps his past a secret even from Miranda (Maribel Verdú), the woman he loves, until the unwelcome arrival of his younger brother Bennie, played by 18-year-old Alden Ehrenreich, whose fresh-faced innocence masks a streak of stubbornness. Determined to save his adored older brother, Bennie brings the past with him, although as Tetro’s new name indicates, it never really went away.

    Tetro Every family has a secret

    Filmed in black and white with few camera movements, “Tetro” reminds the audience of what Mr Coppola can do with actors when he isn’t distracted by technique. Apart from Carmen Maura, playing a powerful critic who has turned her back on Tetro, her former protégé, the supporting players are young actors he cast locally in Argentina. They bring lightness and humour to a dark story of family secrets and rivalries that the director has mined from the imposing mythology of the Coppola family.

    One plotline evokes the story of the living doll who is torn to pieces by the wizard Coppelius in “The Tales of Hoffmann”. When Bennie begins to understand why his brother took him to see Michael Powell’s film of “Hoffmann” as a boy, he imagines scenes from Tetro’s story as colour ballet sequences filmed in Mr Powell’s style. Like Tetro’s past, Mr Coppola’s brilliance as a visual stylist can’t stay hidden for long. Here it is in the service of a story told by a master, with no concessions—the film of a free man starting again.

Sunday, 17 May 2009

  • De l'inconvénient d'être roumain à celui d'être français.

    Quand Cioran admirait Hitler, par Philippe Sollers

    Par Philippe Sollers

    Des textes inédits de Cioran rappellent l'engagement fasciste et le nihilisme furieux de ce misanthrope absolu, mais aussi sa passion pour la langue de Pascal

    herne.jpg

    La scène se passe en Roumanie dans les années 1930 du XXe siècle, c'est-à-dire nulle part. Il y a là un fils de pope particulièrement brillant et agité: Cioran. Il souffre, il déteste son pays, il suffoque, il n'en peut plus, il rêve d'un grand chambardement révolutionnaire, il est mordu de métaphysique mais son corps le gêne, il désire de toutes ses forces un violent orage. Le voici: c'est Hitler. A partir de là, crise radicale: Cioran appelle son pays à une totale transfiguration. Il a 22 ans à Berlin, la fascination a lieu, il s'engage: «Celui qui, entre 20 et 30 ans, ne souscrit pas en fanatique, à la fureur et à la démesure, est un imbécile. On n'est libéral que par fatigue.»

    cioran1.jpg
    Editions de l'Herne
    Cioran (à droite) pendant son service militaire en Roumanie

    Le ton est donné, et l'embêtant est que cet enragé très cultivé est plein de talent. Il a besoin de folie, dit-il, et d'une folie agissante. Il fait donc l'éloge de l'irrationnel et de l'insensé, il a envie de faire sauter les cimetières, il nie, en Œdipe furieux, le christianisme mou de son curé de père, il prend le parti de sa mère, pas croyante, mais qui fait semblant. On se frotte les yeux en lisant aujourd'hui les articles de Cioran dans «Vremea», journal roumain de l'époque: «Aucun homme politique dans le monde actuel ne m'inspire autant de sympathie et d'admiration que Hitler.» La transposition locale s'appelle la Garde de Fer, sa brutalité, son antisémitisme rabique, ses assassinats crapuleux.

    Comment cet admirateur futur de Beckett, bourré de lectures théologiques et mystiques, a-t-il pu avaler la pire propagande fasciste (la terre, l'effort, la communauté de sang, etc.)? En 1940 encore, Cioran fait l'éloge du sinistre Codreanu, dit «le Capitaine» (qui vient d'être liquidé), en parlant de son héroïsme de «paysan écartelé dans l'absolu» et se laisse aller à cette énormité: «A l'exception de Jésus, aucun mort n'a été plus vivant parmi les vivants.» On comprend que longtemps après sa fugue magistrale en France, ayant rompu avec ce passé délirant, il ait été surveillé par la grotesque police secrète communiste roumaine, la, Securitate, avec des comptes rendus dignes du Père Ubu.

    cioran2.jpg
    Ozkok/Sipa
    Né en 1911 en Roumanie, où il publie "Sur les cimes du désespoir" à l'âge de 22 ans, Emil Cioran, s'est exilé définitivement en France en 1941, avant de renoncer à sa langue maternelle à partir de 1947. Proche de Ionesco, Eliade, Beckett ou Michaux, on lui doit notamment "Précis de décomposition" (1949), "La Tentation d'exister" (1956), "De l'inconvénient d'être né" (1973) et "Aveux et anathèmes" (1987). Il est mort à Paris en 1995.

     

    Aucun doute, Cioran a été messianique, et il va d'ailleurs le rester, de façon inversée, dans le désespoir. Sa conversion éblouissante à la langue française va lui permettre cette métamorphose. Dès le «Précis de décomposition» (1949), ne voulant plus être le complice de qui que ce soit, il devient un intégriste du scepticisme, un terroriste du doute, un dévot de l'amertume, un fanatique du néant. En grand styliste de la négation, et avec une intelligence d'acier, il sait où frapper. Son «De la France» annonce parfaitement son projet. La France, écrit-il, s'enfonce dans une décadence inexorable, elle est exténuée, elle agonise, et je vous le prouve, moi, Cioran, en écrivant mieux qu'aucun Français, et en procédant à la dissection d'un cadavre. «Les temps qui viennent seront ceux d'un vaste désert; le temps français sera lui-même le déploiement du vide. La France est atteinte par le cafard de l'agonie.» Ou encore: «Lorsque l'Europe sera drapée d'ombre, la France demeurera son tombeau le plus vivant.»

    Etrangement, les Français vont beaucoup aimer ces oraisons funèbres, alors que si un Français leur dit, pour les ranimer, qu'ils sont moisis, ils le prennent très mal. Cioran est extrêmement conscient de son rôle de vampire intellectuel, mais comme il souffre comme un martyr du simple fait d'être né (alors que, dans la vie, c'était le plus gai des convives), on le plaint, on l'adore. C'est entendu, tout est foutu, l'homme devrait disparaître, et je me souviens de sa charmante dédicace à mon sujet, qui valait condamnation définitive: «Vivant ! Trop vivant!»

    Un nihiliste ultra-lucide

    Dans un passionnant entretien de 1987 avec Laurence Tacou (Cahier de l'Herne), Cioran multiplie les prophéties: «Dans cinquante ans, dit-il, Notre-Dame sera une mosquée.» Un seul espoir: la relève de l'Amérique latine. Il va même jusqu'à cette considération gnostique, ou plus exactement manichéenne: «Je crois que l'histoire universelle, l'histoire de l'homme, est inimaginable sans la pensée diabolique, sans un dessein démoniaque...» En somme, il ne croit pas en Dieu, mais au diable, ce qui l'empêche d'adhérer au bouddhisme, on a eu chaud. Ne pas oublier quand même que tout cela est interrompu par de nombreux rires, la seule solution de calme pour lui, après des nuits blanches torturantes, étant le bricolage et la réparation de robinets.

    Ce misanthrope absolu a réussi à vivre pauvrement, refusant les honneurs et les prix, éternel étudiant, saint sans religion, parasite inspiré, parfois ascète au beurre, et, de plus, aimé jusqu'à sa fin terrible (maladie d'Alzheimer) par une compagne lumineuse, Simone Boué (il faut lire ici le témoignage émouvant de Fernando Savater). Ce nihiliste ultra-lucide ne rend les armes que devant la musique de Bach qui lui ferait presque croire en Dieu. Mais enfin, qui aura célébré comme lui la langue française? «On n'habite pas un pays, on habite une langue. Une patrie, c'est cela, et rien d'autre» En réalité, il a poussé le français au noir, mais sans pathos, dans des fragments dont beaucoup sont inoubliables. Le catastrophisme roumain est toujours là, mais surmonté par l'impeccable clarté française. Cioran a raconté sa conversion au français, après avoir sué sang et eau sur une traduction de Mallarmé. Il s'est réveillé du côté de Pascal et de La Rochefoucauld, et il est parmi les très rares auteurs (avec Baudelaire) à avoir compris le génie de Joseph de Maistre. Pas de Sade, chez lui, aucune dérive sexuelle (ce qui, par les temps qui courent, produit un effet d'air frais). On peut ouvrir ses livres au hasard, et méditer sur deux ou trois pensées, ce que je viens de faire avec «Aveux et Anathèmes»: le spectacle social vole aussitôt en éclats, un acide guérisseur agit.

    cioran3.jpg
    Editions de l'Herne
    Le père de Cioran

    Cioran, on le voit sur des photos, a été un très beau bébé. Son père, en habits ecclésiastiques, n'a pas l'air à la fête. Sa mère, Elvira, est énergique et belle. «J'ai hérité de ses maux, de sa mélancolie, de ses contradictions, de tout. Tout ce qu'elle était s'est aggravé et exaspéré en moi. Je suis sa réussite et sa défaite.» Humain, trop humain... Exemple: «Ce matin, après avoir entendu un astronome parler de milliards de soleils, j'ai renoncé à faire ma toilette: à quoi bon se laver encore?»

    La consommation de Cioran doit se faire à petites doses. Deux ou trois fragments sont régénérants, davantage est vite lassant, on entend tourner le disque. Rien de plus tonique que dix minutes de désespoir et de poison nihiliste. Personnellement, les milliards de soleils m'excitent, et la musique de Bach, comme Cioran le reconnaissait lui-même, est une réfutation de tous ses anathèmes. Quel type extraordinaire, tout de même, qui voulait écrire sur sa porte les avertissements suivants: «Toute visite est une agression, ou J'en veux à qui veut me voir, ou N'entrez pas, soyez charitable, ou Tout visage me dérange, ou Je n'y suis jamais, ou Maudit soit qui sonne, ou Je ne connais personne, ou Fou dangereux.»

  • Exclusif. De notre envoyée spéciale à Berlin

    Imre Kertész: «Auschwitz a été mon école»

    Par Imre Kertész

    A 79 ans, le prix Nobel 2002, qui souffre de la maladie de Parkinson, parle du trauma universel des camps. Entretien exclusif avec Imre Kertész, un sage de notre temps

    A 79 ans, Imre Kertész n'a rien perdu de son regard pétillant, ni de son humour Mitteleuropa. L'écrivain hongrois, lauréat du prix Nobel de littérature 2002, reçoit comme toujours dans les salons de l'hôtel Kempinski, sur le Ku'damm, les Champs-Elysées de Berlin. A deux pas de son domicile. Atteint de la maladie de Parkinson, il voyage de moins en moins.

    De tous les auteurs qui ont consacré leur oeuvre à l'Holocauste, l'écrivain hongrois est certainement le plus paradoxal. Rescapé du camp d'extermination d'Auschwitz-Birkenau, ce fils d'une famille juive modeste de Budapest est l'auteur d'une oeuvre prolifique («Etre sans destin», «Kaddish pour l'enfant qui ne naîtra pas», «le Refus», «Liquidation», etc.), où se chevauchent deux univers concentrationnaires. Contrairement à d'autres artistes, Imre Kertész n'a jamais cherché à fuir la Hongrie communiste, jugeant même qu'elle l'avait d'une certaine façon «sauvé» du traumatisme de l'Holocauste.

    En 2002, treize ans après la chute du Mur, il décide de s'installer à Berlin, «cette ville qui ne cache pas son passé». Il aime d'ailleurs la langue allemande (il a traduit Nietzsche, Hofmannsthal, Freud, Roth, Wittgenstein). Si Imre Kertész n'a pas publié à proprement parler de témoignage sur Auschwitz, il a recréé un univers où le romanesque et l'autobiographie se mêlent aux questions universelles de la survie et de l'exil, mais aussi de l'humain, du religieux et de l'éthique. Il n'est pas seulement un romancier, c'est aussi un théoricien de l'Holocauste et du totalitarisme en général. A travers ses essais, considérations et discours se dessine la biographie intellectuelle d'un très grand écrivain européen.

    Odile Benyahia-Kouider

    Le Nouvel Observateur. - Selon vous, Auschwitz oblige à penser la «négativité» de l'humain. Que voulez-vous dire par là?

    Imre Kertész. - L'Holocauste est différent des autres génocides. Parce qu'il a eu lieu au sein de la civilisation chrétienne. Ce qui est arrivé a ruiné de manière spectaculaire toutes les valeurs qui avaient cours jusqu'alors. C'est rare d'assister à un traumatisme humain universel de cette nature.

    N. O. - Le titre de votre ouvrage, «l'Holocauste comme culture», n'est-il pas provocateur?

    I. Kertész. - En 1992, j'ai reçu une invitation de l'université de Vienne pour un colloque sur Jean Améry [opposant au régime nazi et rescapé d'Auschwitz qui s'est suicidé en 1978]. Je n'avais jamais entendu son nom. Je me suis donc em pressé de lire plusieurs livres, que j'ai trouvés fantastiques. J'ai pris le risque de dire qu'Auschwitz et l'Holocauste faisaient totalement partie de notre culture, au même titre que notre langue, notre musique, notre littérature. A ma grande surprise, cet essai n'a pas été mal interprété, ni mal accepté.

    N. O. - Vous expliquez avoir mieux supporté le traumatisme des camps de concentration que des écrivains comme Romain Gary, Jean Améry ou Primo Levi parce que vous avez ensuite vécu sous le communisme. N'est-ce pas paradoxal?

    I. Kertész. - Enfant, je n'avais connu qu'un régime totalitaire. Du coup, quand je suis revenu en Hongrie, ce n'était pas si difficile pour moi de comprendre ce qui était en train de se tramer. Les indices étaient les mêmes. J'ai vu comment on transformait l'humain en rouage d'une machinerie. J'ai vécu l'insurrection de Budapest en 1956. Dans ces situations, personne ne veut réfléchir, on veut juste vivre. Tout était mensonge, le monde entier était mensonge. Mais la plupart ont gardé la raison dans cette absurdité. Moi, j'avais le sentiment que mon identité était déformée, que j'avais perdu ma normalité. Mais je n'arrivais pas à en trouver l'explication. Je me demandais si mon «anormalité» était devenue la normalité. Ou si j'étais devenu un autre.

    => Lire la suite...

    Propos recueillis par Odile Benyahia-Kouider

    «L'Holocauste comme culture», par Imre Kertész, traduit du hongrois par Natalia Zaremba-Huzsvai et Charles Zaremba, préface de Péter Nádas, Actes Sud, 282 p., 22 euros.

quocoai_sontay_1

  • Visit quocoai_sontay_1's Xanga Site
    • Member Since: 12/11/2008

Weblog Archives

Don't worry - your calendar is here… to see it in action just click "Save" above and refresh the page.